07/01/2009
Mã hóa bằng public-key
Whitfield Diffie đưa ra thuật ngữ "public key" năm 1975 để mô tả
phương pháp mã hóa giúp một nhóm người dùng không phải chia sẻ mã bí mật để mã hóa
hay giải mã dữ liệu. Hiện nay, sức mạnh toán học của public key còn được sử
dụng để xác định danh tính người gửi và sự nguyên vẹn của dữ liệu.
Dorothy Denning và Peter Neumann tại hãng SRI International đã làm ra mô hình
này năm 1984, đưa ra mối tương quan giữa hoạt động không thường xuyên và sử
dụng sai mục đích.
Được thành lập nămn 1990, FIRST quy tụ các nhóm ứng cứu khẩn cấp từ chính phủ,
doanh nghiệp ở khắp nơi trên thế giới để cùng lúc giải quyết sự bùng phát của
các loại sâu, virus... Hiện FIRST có 180 tổ chức thành viên chia sẻ với nhau về
bảo mật.
Xác thực sinh trắc học qua hệ thống quét tròng mắt
Mô hình của con ngươi trong mắt người cũng duy nhất như vân tay và nhà khoa học
người Anh John Daugman (lúc đó đang giảng dạy tại đại học Havard) năm 1991 đã
phát minh ra "thuật toán nhận diện con ngươi". Hiện có khoảng 30
triệu người trên thế giới dùng thiết bị quét này để chứng thực danh tính.
Khi Internet phát triển vào cuối những năm 1980, các tổ chức liên quan đều cần
một cách để "đóng cửa" và chỉ chấp nhận những vị khách cần thiết. Do
đó, ý tưởng về "tường lửa" hình thành. Những người góp phần xây dựng
firewall là William Cheswick, Steve Bellovin, Marcus Ranum, Nir Zuk, David
Presotto và Fred Avolio...
SATAN được Dan Farmer và Wietse Venema phát triển năm 1995 để làm công cụ giúp
các nhà quản lý hệ thống tự động hóa quá trình kiểm tra lỗ hổng. Điều này gây
tranh cãi vì những kẻ xấu cũng có thể dùng nó để làm việc xấu, khiến Farmer bị
đuổi việc khỏi hãng SGI. Tuy nhiên, SATAN vẫn tồn tại dù không được phát triển
tiếp. Đóng vai trò như một máy quét lỗ hổng đầu tiên, SATAN có ảnh hưởng rất
lớn đến sự tiến bộ của lĩnh vực đánh giá lỗ hổng bảo mật.
Taher Elgamal, chuyên gia viết mã người Ai Cập đồng thời là chuyên gia nghiên
cứu chủ chốt tại Netscape Communications, hồi giữa những năm 1990 đã thiết lập
SSL để đảm bảo sự riêng tư cá nhân. Ông mã hóa liên lạc giữa các trình duyệt
web và máy chủ, khiến người ta tin tưởng hơn vào thương mại điện tử.
Bộ tiêu chí này hình thành vào những năm 1990 khi các quốc gia có thiện chí tìm
một phương pháp và quy trình thống nhất để đánh giá độ an toàn của hệ thống máy
tính, xóa bỏ sự phát sinh chi phí cho công tác kiểm tra sản phẩm. Năm 1998,
Phần mềm nguồn mở phát hiện xâm nhập này là của Martin Roesch, lần đầu tiên đưa
ra năm 1998, đánh dấu sự đóng góp rộng rãi của nguồn mở trong lĩnh vực bảo mật.
Luật 1386 về bảo mật dữ liệu của thượng viện bang Luật của một bang nước Mỹ có vai trò quan trọng trong lĩnh vực này bởi nó yêu cầu công bố công khai việc mất dữ liệu tài chính và cá nhân đối với công dân. Lúc này người dân có thể biết được mức độ của tình hình và buộc các công ty phải làm việc tích cực hơn để bảo đảm an toàn dữ liệu.
Nguồn: Networkworld |























